Những
khái niệm này tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ khác song vẫn có
những đặc điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là xét từ góc độ văn hoá,
chúng ta có thể sử dụng chung khái niệm "làng nghề". Làng nghề là một
thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn
định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với
nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu
truyền trong dân gian. Khái niệm về làng nghề theo cách nhìn văn hoá bao
gồm các nội dung cụ thể, như:
- Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan toả mạnh mẽ.
- Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm.
- Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau.
-
Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan
trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được
lịch sử, văn hoá và xã hội liên quan tới chính họ.
Với cách đặt vấn đề trên, tiếp cận từ góc độ văn hoá, chúng tôi muốn bàn đến một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam như sau:
Một là,
làng nghề nước ta phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liền
với cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng xã, trong đó
bao gồm cả yếu tố dòng họ. Theo Courrier du Vietnam (17/3/2003) ở nước
ta có hơn 2000 làng nghề, miền Bắc có 1594 làng nghề (79%), miền Trung
có 312 làng nghề (15,5%) và miền Nam có 111 làng nghề (5,5%). Ở miền Bắc
các làng nghề lại tập trung hơn ở một số địa phương thuộc đồng bằng Bắc
bộ như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Hà Nội, Hà
Đông, Sơn Tây, Hà Nam ... Thực tế này cho thấy, làng nghề ở nước ta gắn
liền với các vùng nông nghiệp và người nông dân làm nghề thủ công để
giải quyết hợp lý sức lao động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông
nghiệp là mùa vụ. Mặt khác, từ sản phẩm, chúng ta cũng nhận thấy gốc
tích nông nghiệp như nguyên vật liệu, công cụ chế tác, giá trị sử dụng
và đặc biệt là nó phản ánh được tính chuyên dụng và sinh hoạt cộng đồng
của cư dân nông nghiệp trên các sản phẩm đó. Nhìn vào những nghề thủ
công nổi tiếng của nước ta như nghề gốm, nghề đan lát, nghề chạm khắc
gỗ, nghề gò đúc đồng, nghề làm giấy, nghề làm tranh, nghề kim hoàn hay
làm nón, dệt vải... chúng ta thấy mỗi nghề gắn liền với một cộng đồng cư
dân được cư trú ổn định trong quy mô làng xã. Nét đặc trưng này không
chỉ phản ánh sự phong phú đa dạng của làng nghề trong hệ thống cấu trúc
làng xã Việt Nam.
Ví dụ, khi nói đến làng gốm Bát Tràng người ta không chỉ biết đến sản
phẩm gốm mà còn nhận biết các thông tin về địa lý, nhân văn, lễ hội
truyền thống, lịch sử một làng nghề bên sông Hồng đầy ấn tượng và cả một
chút “huyền bí”. Hoặc khi nói đến làng dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông,
người ta không chỉ biết về "lụa là Hà Đông" mà còn biết đến những nương
dâu hai bờ sông Đáy, biết đến kỹ thuật nuôi tằm ươm tơ và những bí quyết
về kỹ thuật dệt lụa của cư dân làng Vạn phúc. Tóm lại, đặc điểm này cho
chúng ta nhận dạng các giá trị văn hoá đặc biệt là văn hoá phi vật thể
từ nguồn gốc và đặc trưng xã hội nông nghiệp sản xuất mùa vụ, cơ cấu qui
mô thông qua chế độ làng xã Việt Nam.
Hai là, làng nghề truyền thống Việt Nam
còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là những nghề lâu đời ở những làng cổ
dựa trên hai yếu tố rất cơ bản là vùng nguyên liệu và điều kiện giao
thông, mà đường thuỷ là chính. Làng Gốm Bát Tràng có lịch sử hình thành
đã hơn 6 thế kỷ, Làng Giấy Yên Thái (Bưởi) đã có cách đây 800 năm, Làng
Kim hoàn Định Công có cách đây 1400 năm và Làng Dệt lụa Vạn Phúc thì đã
có hơn 1700 năm có lẻ... Theo chúng tôi, điều này phản ánh đúng logic
lịch sử vì nó đáp ứng yêu cầu của sản xuất và nhu cầu của con người.Do ở
thời nào con người cũng cần công cụ lao động, cần ăn, ở, mặc, đi lại và
các hoạt động văn hoá khác. Khẳng định tính truyền thống của nghề thủ
công Việt Nam và làng nghề để khẳng định sự tồn tại của nó qua các hình
thái kinh tế xã hội hay các phương thức sản xuất khác nhau, là rất cần
thiết, để góp phần khẳng định được các giá trị văn hoá đích thực và ngôi
vị lịch sử cuả nó trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử dân
tộc. Một khía cạnh khác của đặc điểm này là làng nghề hoặc
các cụm làng nghề ở nước ta được hình thành hầu hết đều gắn liền với
vùng nguyên liệu tại chỗ và thuận lợi với giao thông đường thuỷ. Ví dụ
như gốm Bát Tràng, Hải Dương, Quảng Ninh... nguyên liệu đất sét trắng ở
vùng đó quyết định đặc trưng sản phẩm, tính ổn định và phát triển của
làng nghề truyền thống đó. Nguồn nguyên liệu của làng giấy Yên Thái là
giấy "dó" được lấy từ vùng núi và trung du phía Bắc theo sông Hồng về
đến Bưởi. Làng nghề chạm khắc gỗ ở Bắc Ninh, Nam
Định cũng ở cận kề bến sông thuận lợi cho việc khai thác chuyên chở vật
liệu và sản phẩm nặng. Thiếu hai yếu tố nguyên liệu và bến sông có thể
nghề thủ công khó tồn tại và làng đó khó có thể trở thành làng truyền
thống. Và, như vậy những dòng sông như sông Hồng, sông Lô, sông Cầu,
sông Thương, sông Chu, sông Đuống, sông Đáy, sông Thái Bình,... đã tạo
ra sự kết nối giữa các làng nghề ở hai chiều tồn tại là cung cấp nguyên
vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường cả nước.
Ba là:
Làng nghề Việt Nam không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa "nghề" với
"nghiệp" mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánh
qua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác. Điều đầu
tiên phải nói đến đó là các "qui lệ" của các làng nghề . Qui lệ là các
qui ước, luật lệ để gìn giữ bí quyết nghề, để bảo tồn nghề của dòng họ
hay của cộng đồng làng xã. Có thể nói tất cả các nghề thủ công đều có bí
quyết. Việc giữ "bí quyết nghề" không
chỉ đơn thuần là giữ nghề mà nó còn chi phối cả các quan hệ xã hội khác
như quan hệ hôn nhân, không lấy người địa phương khác, hoặc việc truyền
nghề chỉ đóng khung trong một số đối tượng cụ thể, như chỉ truyền cho
con trai, hoặc chỉ truyền cho con trưởng hoặc cháu đích tôn. Ví dụ như
làng chạm bạc Đồng Xâm coi qui chế "hôn nhân nội hạt" là bất biến. Hay
việc phân chia thứ bậc cho nhiệm vụ truyền nghề với hậu thế - chỉ có ông
Trùm (trưởng phường nghề) mới có quyền quyết định việc truyền nghề - và
chỉ những nghệ nhân (thợ cả) mới có đủ tư cách để truyền nghề (dưới thợ
cả còn 6 bậc thợ nữa). Người học nghề được gọi là thợ con và phải ứng
xử theo đạo "thầy trò", rất khuôn phép... Những qui lệ này được hình
thành từ những ước lệ đến qui ước miệng rồi thành văn như hương ước và
lệ làng. Điều này đã tạo ra một trật tự trong làng nghề và những nét văn
hoá đặc thù trong các làng nghề Việt Nam.
Điều thứ hai cần đề cập đến trong đặc điểm sinh hoạt văn hoá tinh thần
của làng nghề là: hầu như làng nghề nào cũng có tục thờ cúng tổ nghề và
gắn liền với lễ hội cùng với các hoạt động văn hoá dân gian khác. Ví dụ:
thợ kim hoàn ở làng chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình) thờ tổ nghề Nguyễn
Kim Lâu, hàng năm vào ngày 5/1 âm lịch là ngày giỗ tổ nghề - đúng ngày
đó thợ Đồng Xâm dù làm ăn sinh sống ở đâu cũng phải về quê làm lễ tổ bằng chính sản phẩm độc đáo nhất mà mình làm ra. Tại lễ tổ này có trao đổi kinh nghiệm, có đánh giá kết
quả và đặc biệt là có xem xét việc giữ gìn những "qui lệ" của làng
nghề, hội nghề. Thưởng cho những ai có công và phạt những người vi phạm
với các hình thức từ khiển trách trước phường hội đến đánh 30 roi trước
sân đình. Những người bỏ bê giỗ tổ nghề thì bị coi là kẻ "phản tổ"... Ở
làng Châu Khê (Hải Dương) một làng kim hoàn nổi tiếng cũng có lệ đối với
việc cúng tế tổ nghề Lưu Xuân Tiến, với một năm có hai dịp tế lễ là
Xuân tế từ 1 đến 12 tháng hai (âm lịch) và Thu tế từ 1-12 tháng tám 8
(âm lịch). Việc giỗ tổ được tổ chức đồng thời với lễ Thành hoàng làng
Châu Khê tại đình làng và đền thờ tổ nghề ở phố Hàng Bạc (Hà Nội), Đối
với giỗ tổ nghề của làng nghề Châu Khê thì
yếu tố trung thực rất được đề cao. Những người làm đồ giả, làm ăn gian
dối, bị trừng trị từ phạt đến khai trừ khỏi phường nghề hoặc đuổi ra
khỏi làng. Gắn với nghi thức thờ tổ nghề là phần hội mang màu sắc văn
hóa dân gian. Như vậy, ở làng nghề ngoài yếu tố sản xuất còn mang rất
đậm yếu tố văn hoá và phần nào còn có những yếu tố tâm linh phù hợp. Bởi
làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản xuất và khái niệm đơn vị hành chính
còn có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng cư trú, cộng đồng lợi ích
và cộng cảm rất cao.
Với cách tiếp cận từ góc độ văn hóa để tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của làng nghề Việt Nam,
dễ dàng nhận thấy rằng làng nghề chứa đựng trong nó những yếu tố nhân
văn và những giá trị văn hóa truyền thống quý giá. Ngoài những yếu tố
kinh tế cần được nghiên cứu phát triển thì làng nghề còn là một đối
tượng quan trọng để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phục vụ cho
sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc và xây dựng đất nước. Từ góc độ bảo
tồn di sản văn hóa chúng tôi có một số suy nghĩ và đề xuất như sau:
Một là, cùng với việc thống kê, nghiên cứu, quy hoạch bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam
cần thiết bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề. Đó là kho
tàng các kinh nghiệm, kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng
nguyên vật liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo cho từng sản phẩm
của mỗi làng nghề. Bởỉ vì quá trình lao động là quá trình sáng tạo, bởi vì trong mỗi sản phẩm đơn chiếc ấy là kinh nghiệm, là kỹ thuật, là bí quyết của người thợ thủ công, và họ còn thổi vào sản phẩm ấy
cả tâm hồn và ý niệm. Ví dụ, từ những tảng đất vô tri vô giác, bằng lao
động sáng tạo những người thợ thủ công đã tạo ra hàng vạn sản phẩm
tuyệt vời, mà ở đó, là tư duy là kinh nghiệm được đúc rút qua bao thế
hệ, mỗi sản phẩm còn là khúc tùy hứng, khát vọng của con người và của cả
cộng đồng người. Đó chính là phần tồn tại vô hình cần được bảo tồn của
làng nghề và sản phẩm của làng nghề.
Hai là,
việc tôn vinh các nghệ nhân của các làng nghề cũng là một yêu cầu đặt
ra đối với việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc. Có thể thẳng thắn thừa
nhận rằng việc này còn là một thiếu sót. Nguyên nhân ban đầu có thể do
nhận thức chưa đúng rằng làng nghề chỉ đơn thuần là hoạt động kinh tế
phụ. Do đó, các giá trị vô hình và đặc biệt là bàn tay khối óc và tâm
hồn của những người thợ tài ba làm ra sản phẩm - những nghệ nhân lại dễ
bị lãng quên. Nghệ nhân không phải là người lao động bình thường, ở họ
ngoài tài ba khéo léo của đôi bàn tay, họ còn giữ trong mình cả những bí
quyết, những kỹ thuật cha truyền con nối và cả những tài hoa, có khi
xuất thần, khó giải thích bằng lời. Phương Tây gọi những nghệ nhân này
là "Báu vật nhân văn sống", bởi bản thân họ đã là một tài sản văn hoá
sống, nắm giữ những giá trị văn hoá của cộng đồng, của dân tộc và có thể
là của cả nhân loại. Ngoài sự sáng tạo, nghệ nhân còn có sứ mệnh truyền
nghề cho các thế hệ sau. Vì vậy, việc tôn vinh nghệ nhân không đơn
thuần chỉ là đánh giá công lao và tỏ lòng kính trọng, mà hơn thế, đây là
một hoạt động, một phương pháp, một nội dung để bảo tồn được các giá
trị văn hoá phi vật thể của nghề truyền thống và làng nghề Việt Nam.
Ba là,
cần tiến hành nghiên cứu để bảo tồn tục thờ tổ nghề và các lễ hội gắn
liền với các sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tinh thần của các làng nghề ở
nước ta. Tục thờ tổ nghề và lễ hội làng nghề được cư dân làng nghề và
xã hội coi trọng. Thờ tổ nghề là một nét văn hoá truyền thống chứa đựng ý
nghĩa lịch sử xã hội, đời sống và con người. Từ đặc trưng văn hóa này
cho phép chúng ta mở rộng sự nghiên cứu về “nghề”, về "nghiệp", về yếu
tố"bản địa", “sự thiên di” hay khả năng lan toả của mỗi nghề hay mỗi
làng nghề. Cùng với tục thờ tổ nghề là các lễ hội dân gian đa dạng và
phong phú. Lễ hội dân gian chính là những sinh hoạt cộng đồng. Lễ hội đó
phản ánh đặc trưng của nghề, của cơ cấu làng nghề và những qui lệ. Ở
đây ngoài yếu tố tâm linh còn chứa đựng sự
ghi nhận những kinh nghiệm, quá trình phát triển, sự biến động và quá
trình giao thoa của "nghề" và làng nghề đó. Như vậy, việc thờ tổ nghề và
lễ hội làng nghề là một hoạt động, một bộ phận văn hoá tạo nên bức
tranh đầy đủ về làng nghề, do đó việc bảo tồn nó cũng như các giá trị
khác là hết sức cần thiết.
Trong
xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, vấn đề bảo tồn các giá trị văn hoá bản
sắc của mỗi quốc gia dân tộc đang là một vấn đề thời sự, trong đó vấn
đề làng nghề và nghề thủ công truyền thống đang trở thành điểm quan tâm
không chỉ của ngành bảo tồn bảo tàng mà còn là của nhiều lĩnh vực văn
hoá khác. Vì vậy, việc bảo tồn những giá trị văn hoá phi vật thể của
làng nghề là mục tiêu không thể thiếu và đang trở thành cấp bách.
Theo: website Cục di sản văn hóa