Sản
xuất và tiêu thụ bền vững không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn
mang lại nhiều lợi ích cho bản thân doanh nghiệp. Hiện nay, có rất nhiều
doanh nghiệp nắm bắt được xu hướng này và ngày càng sản xuất “sạch”
hơn.Sản xuất sạch hơn - xu thế tất yếu
Tại
buổi lễ kỉ niệm 15 năm thành lập Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam -
VNCPC (thành viên chính thức của Mạng lưới toàn cầu về hiệu quả tài
nguyên và sản xuất sạch hơn) tổ chức mới đây tại Hà Nội, các chuyên gia
đã chỉ ra rằng: Sản xuất sạch hơn (SXSH) là một xu hướng tất yếu trên
thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Dự
án Đổi mới sản phẩm bền vững (SPIN) giới thiệu bếp khí hóa dân sinh cho
đồng bào dân tộc tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. |
Theo
PGS. TS Trần Văn Nhân, Giám đốc VNCPC, SXSH có ý nghĩa đối với tất cả
các cơ sở công nghiệp dù lớn hay bé và tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng
nhiều hay ít. Đến nay, hầu hết các doanh nghiệp (DN) ở nuớc ta đều có
tiềm năng giảm lượng nguyên liệu, nhiên liệu tiêu thụ từ 10 - 15%. Áp
dụng mô hình SXSH không chỉ có lợi cho môi trường mà bản thân DN cũng
được hưởng lợi rất nhiều. Theo đó, các DN áp dụng SXSH sẽ giảm thiểu
nguyên vật liệu tiêu hao. Nhờ đó, DN sẽ tiết kiệm được chi phí, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhìn rộng ra, một nền kinh tế có nhiều DN
hoạt động hiệu quả thì tính cạnh tranh cao hơn và phát triển bền vững
hơn.
Bên
cạnh đó, các kế hoạch hành động về SXSH sẽ giúp DN tạo dựng uy tín với
khách hàng và nhà đầu tư, tạo điều kiện cho DN tiếp cận dễ dàng hơn với
các nguồn hỗ trợ tài chính. Việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng
về các vấn đề môi trường thời gian qua đã dẫn đến sự bùng nổ nhu cầu về
sản phẩm xanh trên thị trường. Chính vì vậy, sản phẩm của một công ty
với hình ảnh "xanh" sẽ dễ được cả xã hội, người dân chấp nhận hơn.
Tuy
nhiên, theo bà Nguyễn Thiên Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và
Khoa học công nghệ (Tổng cục Môi trường), mặc dù việc triển khai sản
xuất và tiêu thụ bền vững ở Việt Nam có một số thuận lợi nhưng cũng còn
nhiều thách thức. Cụ thể là, DN thiếu khuôn khổ pháp lí cần thiết; thiếu
các tiêu chuẩn môi trường; nhiều người tiêu dùng chưa thực sự quan tâm
vấn đề này; cơ chế tài chính khuyến khích sản xuất, tiêu thụ bền vững
chưa cụ thể, rõ ràng…
Tuy
vậy, bà Phương cũng chỉ ra rằng, tiềm năng SXSH đối với các DN Việt Nam
còn rất lớn. Hiện nay, sản phẩm giấy tái chế hiện mới chỉ đạt 30%
(trong khi các nước trên thế giới trung bình là 55 – 65%); năng lượng
sạch, tái tạo như địa nhiệt, mặt trời, gió, sinh khối… mới khai thác
được rất ít, trong khi mục tiêu đến năm 2020 là 5% tổng nhu cầu điện.
Theo kết quả nghiên cứu bước đầu về nhu cầu sản phẩm xanh, thân thiện
môi trường, có hơn 45% người dân quan tâm đến các sản phẩm xanh (trong
đó khu vực thành thị có đến hơn 64% người dân quan tâm, khu vực nông
thôn là gần 4%). Trong khi đó, “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh”
vừa được thông qua tháng 9/2012 là những điều kiện rất thuận lợi cho
các DN Việt Nam thúc đẩy việc sản xuất và tiêu thụ bền vững mạnh hơn
nữa.
Những kết quả bước đầu
Theo
ThS Nguyễn Thị Truyền, ĐH Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh, việc
lồng ghép SXSH và sử dụng năng lượng hiệu quả để nâng cao năng suất và
giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các DN là rất quan trọng. Nếu như SXSH
tập trung vào các quy trình và việc giảm thiểu tiêu thụ nguồn tài
nguyên thì sử dụng năng lượng hiệu quả lại tập trung chủ yếu vào việc
giảm thiểu tiêu thụ năng lượng. Theo bà Truyền, các vấn đề của DN hiện
nay là: Tiêu thụ nguyên liệu, nhiên liệu, điện năng ở mức cao; tiêu thụ
nước chưa được kiểm soát; quản lí năng lượng chưa hiệu quả; phát sinh
nhiều nước thải, khí thải, chất thải rắn; gánh nặng về tiêu hao chi phí
sản xuất, xử lí môi trường…
ThS
Truyền dẫn ví dụ về kết quả đạt được khi thực hiện các giải pháp cải
tiến công nghệ theo chiều hướng SXSH và sử dụng năng lượng hiệu quả đối
với lò hơi tại một DN chế biến thực phẩm đã giúp tiết kiệm 26% lượng
than, 50% lượng điện, giảm khí phát thải nhà kính 1.800 tấn CO2/năm,
thời gian hoàn vốn là 3 tháng. Lợi ích kinh tế mang lại là hơn 1 tỷ
đồng/năm.
Một
mô hình áp dụng SXSH thành công tại Nam Định là làng nghề cơ khí mạ
truyền thống Đồng Côi. Làng nghề hiện có hơn 10 cơ sở sản xuất, phần lớn
đều chưa có hệ thống xử lý nước thải, công nghệ lạc hậu. Để giải quyết
bài toán ô nhiễm, với sự hỗ trợ của Cục Kiểm soát ô nhiễm (Tổng cục Môi
trường), giải pháp SXSH được áp dụng tại một số cơ sở sản xuất của làng
nghề thông qua việc lắp đặt thử nghiệm hệ thống xử lý nước thải sau mạ.
Việc vận hành hệ thống xử lý nước thải tại Đồng Côi đã giúp các cơ sở
sản xuất tiết kiệm được lượng nước sử dụng, trong khi chi phí vận hành
thấp, dễ sử dụng, nên đã giúp giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao chất lượng
sản phẩm.
Theo
ông Hoàng Trọng Nghĩa, Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường Nam
Định, việc áp dụng SXSH với các DN của làng nghề Đồng Côi là một hướng
đi thiết thực và hiệu quả. Thành công từ việc thực hiện SXSH tại làng
nghề Đồng Côi đã mở ra hi vọng "xanh hóa" các làng nghề sản xuất cơ khí
nói riêng và các ngành nghề khác nói chung. Đây là con đường mà các DN,
cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn có thể lựa chọn để giải
quyết các vấn đề về môi trường mà lại đạt hiệu quả kinh tế, nhất là
trong thời điểm khó khăn hiện nay.
Theo: TTXVN