Thách thức và khó khăn mang dấu ấn 2013
 |
Tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm gỗ trong thời gian qua chủ yếu nhờ lao động giá rẻ, sản phẩm xuất khẩu ở dạng thô
|
Trong
năm qua, xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản Việt Nam đạt kim ngạch khoảng 4,67
tỉ USD, tăng 15,3% so với năm 2011 và vượt gần 7% so với kế hoạch. Ông
Hà Công Tuấn – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho
rằng đó là thành quả rất đáng được hoan nghênh.
Gỗ Việt Nam hầu
như đã không còn phải dựa vào các thị trường trung gian như Đài Loan,
Singapore, Hàn Quốc…, mà trực tiếp đến với hơn 100 thị trường trên thế
giới.
Nước ta hiện là quốc gia đứng thứ sáu trên thế giới, thứ hai
châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ.
Bốn thị trường trọng điểm của gỗ Việt Nam là Mỹ, Trung Quốc, châu Âu và
Nhật Bản.
Trái với thái độ lạc quan của ông Hà Công Tuấn, ông
Nguyễn Tôn Quyền – Phó chủ tịch Hiệp hội Gỗ lâm sản Việt Nam cho biết:
“Tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm gỗ trong thời gian qua chủ yếu nhờ lao
động giá rẻ, sản phẩm xuất khẩu ở dạng thô như dăm giấy, gỗ bóc… vốn có
giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu”.
Nguyên
nhân là do việc ứng dụng khoa học công nghệ trong các doanh nghiệp chế
biến gỗ còn nhiều hạn chế, sản phẩm gỗ mỹ nghệ làm theo phương pháp thủ
công là chủ yếu.
Năm nay, các thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ
Việt Nam sẽ tiếp tục vận dụng các chính sách bảo hộ mậu dịch, thể hiện
trong việc điều chỉnh tỷ giá, tăng cường các biện pháp chống bán phá
giá, đòi hỏi chứng minh nguồn gốc sản phẩm gỗ…
Gỗ và sản phẩm gỗ
nhập khẩu vào các thị trường này đều phải sử dụng nguồn nguyên liệu có
chứng chỉ FSC (bộ tiêu chuẩn của Hội đồng Quản trị rừng thế giới) hoặc
có chứng thực nguồn gốc. Chúng ta hiện chưa có thị trường gỗ nguyên liệu
FSC nên phải nhập đến 80% nguyên liệu gỗ với giá trị kim ngạch khoảng 1
tỉ USD.
Trong khi giá nhập khẩu gỗ và chi phí vận chuyển ngày
càng tăng thì các nhà xuất khẩu gỗ Việt Nam khó có thể cạnh tranh được
với những đối thủ tại các nước có khả năng tự cung ứng nguyên liệu như
Trung Quốc, Malaysia…
Từ tháng 3 năm nay, các quốc gia ở châu Âu –
một trong những thị trường nhập khẩu gỗ hấp dẫn của nước ta – sẽ chính
thức thực hiện quy chế 995/2012 về nhập khẩu gỗ của Liên minh châu Âu
(EU) nhằm mục đích cấm nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ có nguồn gốc trái
phép.
Theo đó, những nước cung cấp gỗ (trong đó có Việt Nam) phải
có trách nhiệm giải trình để chứng minh nguồn gốc gỗ, ví dụ mô tả loại
gỗ, chỉ ra quốc gia khai thác, cung cấp thông tin chi tiết về nhà cung
cấp, thông tin về tính tuân thủ các quy định quốc gia…
Trên thực
tế, có tới 80% gỗ rừng trồng ở nước ta đều được mua ở các hộ dân, cá
nhân, lại mua đi bán lại qua nhiều tầng nấc trung gian khác nhau. Vì
vậy, việc có đủ chứng từ nguồn gốc ban đầu về gỗ nguyên liệu gần như là
“bất khả thi”.
Hơn nữa, trách nhiệm giải trình là… trách nhiệm vô
hạn! Việc giải trình nhanh hay chậm, dễ hay khó thì hầu như các nhà chế
biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam không thể dự đoán chính xác được.
Quay về thị trường nội địa – liệu có khả quan?
Trước
những khó khăn xuất hiện tại các thị trường nhập khẩu gỗ truyền thống
như Hoa Kỳ, EU…, trong năm qua, nhiều doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu
gỗ Việt Nam đã thử tìm kiếm các thị trường mới.
Kết quả của việc
tìm kiếm thị trường mới không hề dễ dàng, lại tốn nhiều chi phí. Một số
thị trường mới như Trung Đông hay Bắc Phi lại có những nét văn hóa rất
khác biệt, khó tiếp cận trong giao thương.
Tại buổi hội thảo, ông
Võ Đại Hải – Phó cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng nhu cầu gỗ và
sản phẩm từ gỗ của thị trường nội địa rất lớn nhưng hiện chưa được chú
trọng. Quay lại phục vụ thị trường nội địa trong giai đoạn khó khăn hiện
nay mới nghe có vẻ hợp lý, song thực hiện lại không dễ dàng.
Lâu
nay, các doanh nghiệp gỗ chỉ tập trung nghiên cứu thị trường nước ngoài,
hầu như không dành thời gian nghiên cứu về nhu cầu trong nước. Thêm vào
đó, việc đầu tư cho việc thiết kế sản phẩm cũng như thiết lập hệ thống
phân phối ở thị trường nội địa cũng cần một khoản chi phí không nhỏ.
Nhiều
đại biểu tại hội thảo cho rằng vẫn nên tập trung vào các thị trường
truyền thống và tìm cách vượt qua các rào cản trước mắt. Trong giai đoạn
này, việc sản xuất các sản phẩm thô vẫn phải duy trì, nhưng cần giảm
dần về khối lượng. Thay vào đó, doanh nghiệp nên tập trung phát triển
chế biến từ gỗ rừng trồng có đường kính nhỏ để tạo sản phẩm có giá trị,
lại nâng cao được năng lực cạnh tranh.
Theo ý kiến của ông Huỳnh
Văn Hạnh – Phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ
Chí Minh, Nhà nước cần xem xét giảm mức lãi suất cho vay tín dụng xuất
khẩu đối với tiền đồng Việt Nam từ 11,4% xuống còn khoảng 8 – 9%/năm để
hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng dùng cho việc đầu tư nâng
cao năng lực gia công các sản phẩm từ gỗ, tận dụng thời cơ nhiều nhà máy
chế biến gỗ ở châu Âu đang rao bán thiết bị và công nghệ hiện đại với
giá rẻ.
Hầu hết các nước trên thế giới đang chuyển sang sử dụng
sản phẩm được chế biến từ nguồn gỗ được khai thác có kiểm soát hoặc có
chứng chỉ khai thác rừng bền vững (FSC).
Thiết nghĩ, ngay trong
năm nay, các cơ quan quản lý có trách nhiệm cần nhanh chóng xây dựng và
ban hành bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững, xây dựng đề án thúc đẩy
chứng chỉ rừng của Việt Nam.
Bên cạnh đó, việc bổ sung, kiện toàn
đội ngũ kiểm lâm cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ,
phát triển rừng bền vững, đồng thời kiểm soát được chuỗi cung ứng sản
phẩm chặt chẽ hơn.
Đối với thị trường châu Âu, gỗ và sản phẩm từ
gỗ nhập khẩu vào các nước này sẽ không phải giải trình nếu có giấy phép
FLEG (tăng cường thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại
lâm sản).
Để có giấy phép FLEG, một bước đệm mà chúng ta cần hoàn
thành là thông hiệp định đối tác tự nguyện VPA. Đây là hiệp định thương
mại giữa EU và các quốc gia xuất khẩu gỗ đến EU, trong nội dung có cam
kết cùng thực hiện các kế hoạch hành động của FLEG, tập trung vào ba vấn
đề chính là: (1) Định nghĩa gỗ hợp pháp; (2) Thiết lập và vận hành hệ
thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ trong chuỗi cung và (3) Giám sát độc
lập, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các bên tham gia trong chuỗi cung
ứng sản phẩm.
Hiện nay, Việt Nam và EU vẫn chưa thể thông qua
hiệp định VPA/FLEG do còn chưa giải quyết được một số vướng mắc, chẳng
hạn chưa thống nhất về định nghĩa gỗ hợp pháp, các vấn đề về quyền sử
dụng đất, sử dụng rừng, về môi trường…
Tất cả các doanh nghiệp
trồng, vận chuyển, chế biến, xuất khẩu gỗ trong nước đều là những đối
tượng chịu ảnh hưởng về quyền lợi từ VPA/FLEG nên cần chủ động tham gia
trong tiến trình đàm phán bằng cách góp ý thông qua Hiệp hội Gỗ lâm sản
Việt Nam hoặc gửi thư trực tiếp về Tổng cục Lâm nghiệp hay qua website:
http://www.tongcuclamnghiep.gov.vn.
Theo: Doanh Nhân Sài Gòn