Ngọ Môn và lầu Ngũ Phụng
Truyền thống dân tộc xuất phát từ dịch lý và thuật phong
thủy của Trung Hoa cổ đại, nguyên lý kiến trúc truyền thống Việt Nam và
kiến trúc Kinh đô Huế tất yếu phải hài hoà với thiên nhiên và con người . Ngoài
thuyết Ngũ hành kết hợp thuyết Âm dương, Tam tài, quy luật phát triển của vạn
vật về bố cục của đồ án quy hoạch kinh đô Huế dựa trên cơ sở nghiên cứu định
hình theo thuật Phong thủy và Dịch lý của các nhà Phong thủy Phương Đông cho
những công trình kiến trúc kể cả âm phần dương cơ.
Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến
trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo vị
thế toa càn hướng tốn, tức là chạy hướng Tây Bắc- Đông Nam. Yếu tố Ngũ
hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cung thành tương ứng với
ngũ phương. Ngôn ngữ của kiến trúc là định vị các công trình trong không gian
sao cho hài hòa với thiên nhiên. Như Điện Thái Hòa là trung tâm của Kinh thành,
chung quanh là Thanh Long (Đông), Bạch Hổ (Tây), Chu Tước (Nam), Huyền Vũ
(Bắc).

Lầu ngũ
phụng
Hướng Kinh thành phải quay mặt về phía Nam vì Kinh dịch viết
"Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ" nghĩa là bậc đế vương xoay
mặt về hướng Nam để nghe (cai trị) thiên hạ.
Hữu Vũ trong Hoàng Thành
Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến
trúc truyền thống Lý, Trần, Lê là tất yếu để chống sự đồng hoá và cũng chống sự
lạc hậu nên đồng thời tiếp thu tinh hoa của mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được
Việt Nam hóa một cách có ý thức dân tộc của các nghệ nhân từ các miền Nam Bắc
quy tụ về xây dựng Kinh đô, kể cả những người thợ gốc Minh Hương Trung Quốc và Champa.
Đặc biệt đã được hiện đại hóa kỹ thuật của những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời Gia
Long, theo phương châm cơ bản tiếp thu có chọn lọc những kiến trúc thích nghi
với tâm hồn người Việt và Việt hóa dần để phù hợp với tâm lý bản địa đem lại
những đặc trưng bản sắc kiến trúc Huế.

Đại Nội
Huế
Về kiến trúc quy hoạch đồ án xây dựng kinh đô Huế, vua Gia
Long là một nhà chính trị, quân sự, đồng thời là một người có sáng tạo trong
quy hoạch đô thị. Đồ án được thai nghén trong tâm thức nhà vua từ trước khi
đăng quang. Việc thi công được thực hiện kể từ năm 1802. Kinh đô Huế xây dựng
bởi ba lớp thành bao bọc là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành.
Kinh Thành hay Phòng Thành
Năm 1802 vua Gia Long khởi công xây dựng Hoàng thành và Tử
Cấm thành. Năm 1805 mới bắt đầu xây dựng Kinh thành, quy mô diện tích rất lớn
520ha, chu vi 10km. Đặc biệt vận dụng kiểu kiến trúc phòng ngự Vauban của Pháp.
Phòng thành Huế tạo những đường dích dắc, gồm các hệ thống: luỹ, pháo đài, giác
bảo, đoạn thành nối hai pháo đài, tường bắn, phản pháo, phòng lô, hào, thành
giai... Đây là một loại thành luỹ đã được áp dụng ở nhiều địa phương nước Pháp
và các nước lân cận. Khi xây dựng kinh thành, 8 làng phải dời đi và hai đoạn
nhánh Sông Hương là Bạch Yến và Kim Long đã bị lấp. Vòng thành có 10 cửa lớn
đường bộ, hai đường thuỷ và kỳ đài; thành cao 6,6m, rộng 21m xây gạch bên ngoài
kiên cố có dãy hào sâu gọi là Hộ Thành hà. Trong Kinh thành còn có những công
trình kiến trúc: lục bộ, nha viện, Quốc Tử giám, Quốc Sử quán, quần thể kiến
trúc hồ Tịnh Tâm, Khâm Thiên giám, Trần Bình đài, Tàng Thơ lâu, Kỳ đài... Thật
sự kiểu thức này cũng đã được áp dụng khi xây dựng thành Gia Định (1791) do ông
Olivier de Puymanuel giỏi về kiến trúc và kỹ sư Leburn đã thiết kế giúp chúa Nguyễn
Ánh. Kinh thành Huế xây thời Gia Long và vua kế vị Minh Mạng đã xây tiếp các
thành: Hà Nội, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hưng Yên, Hưng Hoá, Nam
Định, Thanh Hoá, Vinh, Đồng Hới, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,
Phú Yên, Khánh Hoà, Yên Hòa, Vĩnh Long... cũng đều theo phong cách Vauban, một
phong cách xuất hiện sớm ở châu Á.
Hoàng Thành
Toàn cảnh Hoàng thành Thành gần hình vuông, mỗi cạnh 606m.
Trong đồ án hơi lệch về phía Nam của Kinh thành, có một cửa chính Ngọ Môn
(Nam), Hòa Bình (Bắc), Hiển Nhơn (Đông) và Chương Đức (Tây). Theo trục dũng
đạo, từ cửa Ngọ Môn vào điện Thái Hoà là nơi thiết đại triều và tiếp sứ thần,
có nhiều cầu, hồ liên tục và những phương môn bằng đồng nguy nga tráng lệ. Khu
vực thờ cúng tổ tiên có: Triệu miếu, Thái miếu, Hưng miếu, Thế miếu, điện Phụng
Tiên, Cửu đỉnh, các cung Diên Thọ (các bà mẹ vua ở), cung Trường Sanh (các bà
nội vua ở), các kho tàng, vườn Thượng Uyển ... Ngọ Môn và Hiển Lâm các là hai
công trình kiến trúc đồ sộ, độc đáo tuyệt mỹ của kiến trúc truyền thống Huế.

Tử Cấm Thành
Thái Bình Lâu trong Tử Cấm thành Toàn bộ cung điện, lầu gác,
đình tạ xây dựng để phục vụ sinh hoạt của nhà vua và gia tộc. Đại cung môn gồm
có: điện Cần Chánh, Càn Thành, Kiến Trung, Tam Cung lục viện, Tả vu, Hữu vu,
điện Văn Minh, Võ Hiển, Thái Bình lâu, Duyệt Thị đường, Thái Y viện, v.v...
Ngoài Kinh thành còn có: Phu Văn lâu, đàn Nam Giao, Văn Thánh, chùa Linh Mụ,
điện Hòn Chén, Hổ Quyền... Đây là những di tích lịch sử và cảnh quan đẹp của
đất Thần kinh.
. 

Ngọ Môn
Là cổng chính của Đại nội, xây dựng 1833, thời vua Minh
Mạng. Ngọ Môn được xây dựng trên mặt bằng hình chữ U và hệ thống Ngũ Phụng lâu
chia thành 9 bộ mái lớn nhỏ, cao thấp, nhấp nhô trông rất đẹp mắt để tránh sự
nặng nề của công trình kiến trúc hình khối tương đối đồ sộ. Hệ thống nền đài
xây dựng bằng vật liệu cứng (đá thanh, gạch, đồng) nhưng nhờ tạo dáng mềm mại,
bố trí hài hoà, trau chuốt khéo léo nên trông rất nhẹ nhàng. Các lối đi trổ
xuyên thâu nền đài thành như đường hầm dài. Tổng thể Ngọ Môn đồ sộ nguy nga,
hùng tráng, nhìn xa như một lâu đài tráng lệ phản ánh trình độ cao của các công
trình sư, kiến trúc sư thời Minh Mạng. Ngọ Môn là một công trình kiến trúc tiêu
biểu, xuất sắc của triều Nguyễn nói riêng và kiến trúc cổ Việt Nam nói chung.

Điện Thái Hòa
Trong Đại nội, cung điện quan trọng nhất là điện Thái Hoà.
Điện nằm ở điểm trung tâm trong quy hoạch tổng thể mặt bằng hệ thống các công
trình kiến trúc cung đình kinh đô Huế. Nơi đây đặt ngai vàng, biểu tượng thiêng
liêng của chế độ quân chủ. Về phong cách kiểu thức, kiến trúc ở Kinh đô Huế
khác hẳn những triều đại trước thuộc văn hoá Thăng Long. Điện Thái Hoà cũng như
nhiều điện khác trong Đại nội được thiết kế theo kiểu thức nhà kép, gọi là
trùng thiềm điệp ốc (mái chồng lên nhau, nhà nối liền nhà), nhà trước và nhà
sau của điện nằm trên một mặt nền và nối liền nhau bằng một hệ thống vì kèo thứ
ba, một hệ thống trần nằm cong nên thường gọi là trần vỏ cua hay thừa lưu. Điện
Thái Hoà là một ngôi điện lớn, uy nghi tráng lệ nhất trong quần thể kiến trúc
cung đình xưa còn tồn tại ở Huế, nó mang chủ đề tư tưởng của kiến trúc Kinh đô
Huế và chế độ quân chủ nhà Nguyễn. Đây là một công trình kiến trúc có thể xem
là chuẩn mực về cấu trúc phong cách như những cung điện miếu thờ của kiến trúc
cung điện triều Nguyễn theo kiểu trùng thiềm điệp ốc.
. 
Điện Long An
Trên phương diện kiến trúc cổ, đây là một công trình có giá
trị thẩm mỹ cao của nhà Nguyễn, kiến trúc điện Long An là một tòa nhà kép, gọi
là trùng thiềm điệp ốc, hệ thống vì kèo trần vỏ cua được chạm trổ rất tinh tế.
Không gian rộng, có chiều sâu, tạo sự thâm nghiêm chung quanh toà nhà; tòa nhà
tuyệt đối không xây vách mà chỉ dựng toàn cửa bằng khoa lồng kính để tiếp nhận
ánh sáng, mái bao che chung quanh 3 tầng, ở giữa là hàng cổ diềm được trang trí
hàng cột hiên đứng xuống mặt sàn nhà không từ trên nền. Điện Long An được trang
trí hình ảnh và thơ văn nhiều nhất. Nội thất có bảy mươi mốt ô hộc trang trí
theo lối nhất thi nhất hoạ với chất liệu óng ả cẩn xà cừ, ngà xương. Đặc biệt
trên hệ thống bản đố nhà trong, hai bên có hai vách gỗ, có 56 chữ Nho được sắp
xếp hình Bát Quái và dùng để hồi văn liên hoàn có thể đọc thành 64 bài thơ thất
ngôn và ngũ ngôn khác nhau do vua Thiệu Trị sáng tác. Điện Long An là một công
trình nguy nga, tráng lệ và thanh nhã bởi những bàn tay khéo léo của các nghệ
nhân được xem là một cung điện đẹp nhất ở Huế và VN. Điện thuần túy bằng chất
gỗ, không vàng son như thường thấy ở các cung điện khác.

Hiển Lâm Các
Là một công trình kiến trúc độc đáo cao ba tầng bằng gỗ duy
nhất, trông rất kỳ vĩ trang nghiêm, có 12 mái, 4 cột chính chạy suốt chiều cao
khoảng 13m , diện tích mặt bằng rộng 300m2. Trên nền các tầng thu nhỏ dần, tạo
thành cấu trúc khối đơn giản, đẹp và duyên dáng nhưng có vẻ tôn nghiêm. Chức
năng chính được xem như đài tưởng niệm để ghi nhớ công lao của các vua nhà
Nguyễn được thờ ở Thế miếu. Hệ thống kết cấu con sơn là một kiểu thức của kiến
trúc cổ VN nhưng đã có sự phát triển mới. Trang trí nội thất cũng như ngoại
thất rất tinh tế, đẹp hài hòa với không gian thiên nhiên tươi đẹp, những cây cổ
thụ rợp bóng mát quanh năm. Hiển Lâm các có giá trị về kỹ thuật lẫn thẩm mỹ tạo
hình.

Hiển Lâm Các và Cửu
đỉnh
Thế Miếu
Năm 1804, Gia Long cho xây dựng miếu Hoàng Khảo ở vị trí của
Thế Miếu ngày nay để thờ cha mình là Nguyễn Phúc Luân. Sau khi vua Gia Long
mất, Minh Mạng lên nối ngôi, năm 1921 ông đã cho dời miếu Hoàng Khảo lui về
phía sau vài chục mét, đổi thành Hưng Miếu, còn xây Thế Miếu vào vị trí ấy vào
năm 1821 - 1822 để thờ vua Gia Long và các vua kế vị.


Thế Miếu được xây dựng trên mặt bằng 1500 m2, cũng là toà
nhà kép theo kiểu "trùng thiềm, trùng lương" như Ðiện Thái Hoà. Tiền
doanh ( nhà trước) có 11 gian và chính doanh (nhà sau) có 9 gian. Hai doanh nối
với nhau bằng trần vỏ cua. Tất cả có chung một đường mà ngăn riêng từng thất -
tức là cùng một toà nhà mà chia ra nhiều ngăn, một gian thiết trí, một án thờ
giành cho một vị vua.
.
Lăng Tẩm Các Vua Nhà Nguyễn
Dưới thời Nguyễn, lăng tẩm của các vị hoàng đế có kiến trúc
rất quy mô, hài hòa giữa thiên nhiên với con người. Chúng như những khu công
viên rộng lớn ở thượng nguồn sông Hương và một phần nào phản ánh tư tưởng, cá
tính của các vị vua. Bản thân các vua đã bỏ hết tâm tư vào việc xây dựng lăng
tẩm cho mình từ lúc còn tại vị. Thành phần kiến trúc gồm có: tượng chầu bái
đình, nhà bia, trụ biểu, tẩm điện. Thành phần tự do gồm có: hồ cầu, la thành,
nghi môn.... Sự thêm bớt quy hoạch cụ thể, tuân thủ nghiêm túc những nguyên lý
phong thủy của các thầy địa được trọng dụng đưa ra để chọn địa thế như: Vạn
niên cát địa (đất tốt ngàn năm), Tiền án hậu chẩm (núi án phía trước, núi gối
phía sau), Tả long hữu hổ (núi chầu phải, trái như rồng chầu hổ phục), Huyền
thủy chi lưu (nước chãy lặng lẽ vòng quanh hình chữ chi), Sơn triều thủy tụ
(núi hướng về, nước chãy đến). Những lăng tiêu biểu như lăng Gia Long, Minh
Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... có vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ và mang phong cách truyền
thống. Tuy nhiên cũng có lăng ảnh hưởng kiến trúc Baroque Tây phương như Lăng
Khải Định.
Lăng Gia
Long
Đồ án công trình bố cục theo chiều ngang trải rộng mênh
mông, không có đình tạ và thành. Tổng thể điện Minh Thành bao gồm tẩm điện, sân
chầu, tượng đá voi ngựa, quan chầu, bia Thánh Đức thần công. Bao quanh cảnh núi
đồi hùng vĩ giống như một vòng thành thiên nhiên, với núi Thiên Thọ gồm 42 ngọn
đồi. Khu mộ hợp táng vua và hoàng hậu là sự độc đáo của công trình lăng ở
phương Đông. Cảnh quan thiên nhiên hoà quyện với kiến trúc. Con người làm chủ
được thiên nhiên trong sự hài hòa có tính chất chiều sâu tâm linh nội tại. Một
chuyên gia UNESCO đã nhận xét rằng, lăng Gia Long ở giữa một khu vườn thiên
nhiên bao la gợi nên ấn tượng hoành tráng và thanh thoát.


Lăng Minh Mạng
Lăng Minh Mạng, với đồ án chữ Minh của mặt bằng hồ cùng
những công trình kiến trúc theo trật tự thẳng trục thần đạo, có tính chất uy
nghiêm hùng vĩ, đã phản ảnh tư tưởng trung ương tập quyền của vị hoàng đế này.
Lăng Minh Mạng được coi là một trong những công trình lăng tẩm đạt đỉnh cao của
sự hài hoà đối xứng và bất đối xứng của trật tự nghiêm ngặt tạo sự hoành tráng
uy nghi, đặc biệt tẩm (khu mộ khối hình tròn thành cao tượng trưng cho mặt
trời, biểu tượng thiên thể).

Lăng Thiệu Trị
Là sự thay đổi không gian qua biến thể cấu trúc kết hợp giữa
đồ án hoành của lăng Gia Long và trục đứng đạo đến khu mộ của lăng Minh Mạng để
tạo ra bố cục mới đặt cụm kiến trúc sân chầu, nhà bia, bửu thành song song viện
chính và vẫn giữ vẻ uy nghi, quy mô hoà hợp với cảnh quan thiên nhiên.

Lăng Tự Đức
Tuy có sự kế thừa nhưng đã phá vỡ không gian tạo hình, không
giống những lăng các vị tiên đế. Đồ án uyển chuyển nhịp nhàng, tạo nhịp điệu
đầy chất thơ hoà quyện trong không gian thiên nhiên đầy thông, hồ nước chãy
quanh, đặc biệt điểm tô thêm nhà thuỷ tạ duyên dáng soi bóng trên mặt hồ sen,
một nhà bia với tấm văn bia đồ sộ biểu lộ tâm trạng bi quan của nhà vuạ Lăng
phản ánh tâm hồn phóng khoáng, lãng mạn của một vị vua thi sĩ đã có nhiều trước
tác về thơ văn có giá trị văn học.

Lăng Khải Định
còn gọi là Ứng Lăng,
là lăng mộ của vua Khải Định (1885-1925), vị vua thứ 12 của triều
Nguyễn, toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài
kinh thành Huế.

Lăng
khởi công ngày 4 tháng 9 năm 1920 do Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá
là người chỉ huy và kéo dài suốt 11 năm mới hoàn tất. Tham gia xây dựng
lăng có rất nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước nhưPhan
Văn Tánh, Nguyễn Văn Khá, Ký Duyệt, Cửu Sừng... Để có kinh phí xây dựng
lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền
30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng. Hành động này của Khải
Định đã bị lịch sử lên án gay gắt.
So
với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có diện tích rất khiêm
tốn hơn: 117 m × 48,5 m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian. Để
xây lăng, Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói
Ardoise..., cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu... để kiến thiết công trình.

Về
kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng
kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi cái mới, cái lạ, cái độc đáo, cái
ngông nghênh, lạc lõng... tạo ra từ phong cách kiến trúc.
Về
tổng thể, lăng là một khối hình chữ nhật vươn lên cao có 127 bậc cấp.
Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc như Ấn Độ Giáo, Phật Giáo,
Roman, Gothique... đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể:
- Những trụ cổng hình tháp ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ;
- Trụ biểu dạng stoupa của Phật giáo;
- Hàng rào như những cây thánh giá khẳng khiu;
- Nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể...
Điều này là kết quả của hai yếu tố: sự giao thoa văn hóa Đông - Tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định.
Cung Thiên Định

Cung
này ở vị trí cao nhất là kiến trúc chính của lăng, được xây dựng công
phu và tinh xảo. Toàn bộ nội thất trong cung đều được trang trí những
phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh. Đó là những bộ tranh tứ quý,
bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vương miện... kể cả những vật dụng rất
hiện đại như đồng hồ báo thức, vợt tennis, đèn dầu hỏa... cũng được
trang trí nơi đây. Công trình này gồm 5 phần liền nhau:
- Hai bên là Tả, Hữu Trực Phòng dành cho lính hộ lăng;
- Phía trước là điện Khải Thành, nơi có án thờ và chân dung vua Khải Định;
- Chính giữa là bửu tán, pho tượng nhà vua ở trên và mộ phần phía dưới;
- Trong cùng là khám thờ bài vị của vua.
Bên
dưới bửu tán là pho tượng đồng của Khải Định được đúc tại Pháp năm
1920, do 2 người Pháp là P. Ducing và F. Barbedienne thực hiện theo yêu
cầu của vua Khải Định. Thi hài nhà vua được đưa vào dưới pho tượng bằng
một toại đạo dài gần 30 m, bắt đầu từ phía sau Bi Đình. Phía sau ngôi
mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết của vua.
Người
chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật
trong lăng Khải Định là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của 3 bức bích
họa “Cửu long ẩn vân” lớn vào bậc nhất Việt Nam được trang trí trên trần
của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định.
Nhã Nhạc Cung Đình Huế
Là
thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp
lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm
của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã
được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại
vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". "Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đến thời nhà nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất".
Cùng với không gian văn hóa Cồng Chiên Tây Nguyên, đây là di sản phi
vật thể của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận. Nhã nhạc Cung
Đình Huế là một sự kế thừa,kể từ khi những dàn nhạc - trong đó có mặt
nhiều nhạc khí cung đình - xuất hiện dưới dạng tác phẩm chạm nổi trên
các bệ đá kê cột chùa thời Lý, thế kỉ XI-XII, đến lúc ông vua cuối cùng
triều Nguyễn thoái vị vào giữa thế kỷ XX.
