Ðiều
có ý nghĩa lớn là các sản phẩm ấy đã thể hiện được tinh hoa, bản sắc
văn hóa dân tộc. Khi khai quật di chỉ khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long
cách đây nghìn năm ai cũng thấy rõ vai trò của làng nghề trong việc xây
dựng kinh thành. Từ những viên gạch, viên ngói, đầu rồng đến những vật
dụng sinh hoạt gốm sứ bị chôn vùi dưới đất qua bao thời đại vẫn còn giữ
nguyên nét tinh xảo, tài hoa của bàn tay khối óc người thợ thủ công. Ðặc
biệt, những sản phẩm từ từng lớp di chỉ thể hiện rất rõ nét đặc trưng
nghệ thuật của các triều đại khác nhau theo thứ tự thời gian: thời Lý -
Trần, thời Lê - Nguyễn... phản ánh dòng chảy văn hóa Việt Nam một cách
sinh động, cụ thể. Có thể nói sản phẩm làng nghề hàm chứa tinh hoa văn
hóa và trở thành di sản văn hóa dân tộc. Ông cha ta đã để lại một kho
tàng nghề truyền thống quý giá vẫn đang tồn tại và phát triển trong cuộc
sống hiện đại hôm nay vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa xuất
khẩu như: Mây tre đan, gốm sứ, đồ
gỗ, dệt, thêu ren, sơn mài, chạm khắc đá, kim khí, thực phẩm chế
biến... Hiện nay cả nước có 2.790 làng nghề với 53 nhóm nghề. Việt Nam
có khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau trong đó có rất nhiều sản
phẩm có lịch sử phát triển hàng trăm, hàng nghìn năm: Tơ lụa Vạn Phúc
có hàng nghìn năm lịch sử, mây tre đan Phú Vinh hơn 700 năm, gốm sứ Bát
Tràng có lịch sử gần 500 năm... Các làng nghề thường là những làng văn
hóa cổ với kiến trúc độc đáo, một số làng nghề là làng khoa bảng như
làng dao kéo Ða Sĩ có rất nhiều người đỗ đạt trong đó có danh y Hoàng
Ðôn Hòa nổi tiếng,
làng Bát Tràng có 25 tiến sĩ trong đó có một trạng nguyên, hiện nay làng
vẫn giữ được Văn chỉ ghi danh những người đỗ đạt, đình làng thường
xuyên trở thành nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Các làng nghề đã thu hút 1,3 triệu lao động chính, ngoài ra còn tạo
việc làm cho hàng triệu lao động phụ lúc nông nhàn. Những năm gần đây
kim ngạch xuất khẩu đã lên tới hơn 600 triệu USD/năm.
Tuy
nhiên, hiện nay trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, các làng
nghề Việt Nam đang lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn, thiếu vốn, thiếu
nguyên liệu sản xuất, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp. Theo thống kê mới
nhất, 60% số doanh nghiệp làng nghề đang hoạt động cầm cự, 20% số doanh
nghiệp "thoi thóp", nhiều cơ sở sản xuất đang đứng bên bờ phá sản. Thực
trạng đó đang đòi hỏi những biện pháp giải cứu cho làng nghề trước hết
là để tháo gỡ khó khăn về kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng
triệu lao động nhất là khi nhiều người mất việc ở thành phố, khu công
nghiệp trở về làng chưa có công ăn việc làm. Việc giải cứu còn có ý
nghĩa sâu xa là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc của các làng
nghề.
Trong
tình hình khó khăn hiện nay các làng nghề đang trông đợi vào sự quan
tâm của Nhà nước. Ðể giải quyết vấn đề vốn, nguyên liệu, xúc tiến thương
mại mở rộng thị trường xuất khẩu, tập trung khai thác tốt thị trường
trong nước thì các cơ sở, hộ sản xuất nhỏ lẻ khó tìm ra hướng đi đúng,
đồng thời "lực bất tòng tâm". Cần hình thành ngay một ban chỉ đạo Nhà
nước về tư vấn phát triển bền vững các làng nghề, hình thành Quỹ hỗ trợ
bảo tồn, phát triển các làng nghề theo hướng mỗi làng một nghề; tiến
hành quy hoạch các làng nghề theo nhu cầu của thị trường trong nước và
xuất khẩu tránh tình trạng mạnh ai nấy làm xảy ra ứ đọng sản phẩm. Trước
mắt, tập trung tiêu thụ sản phẩm thủ công ở trong nước. Các doanh
nghiệp, làng nghề cần gắn kết với nhau để vạch kế hoạch tiếp cận sâu
rộng nhu cầu của thị trường trong nước, nhu cầu của từng sản phẩm, từng
khu vực thị trường để có kế hoạch sản xuất kinh doanh, thiết lập hệ
thống phân phối, lộ trình giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng,
cải tiến mẫu mã hàng hóa. Ðể tiêu thụ hàng hóa ở thị trường trong nước
thì việc quảng bá, trưng bày, bán sản phẩm là rất quan trọng. Hiện nay
có nhiều khu triển lãm, nhà văn hóa thỉnh thoảng mới tổ chức các sự kiện
còn thường ngày vẫn để trống hoặc cho thuê đám cưới, tại sao ở những
nơi đó trong thời gian trống không thể tổ chức các phiên chợ làng nghề
vừa bán sản phẩm vừa kinh doanh ẩm thực truyền thống. Mở rộng hệ thống
bán lẻ, trưng bày và bán hàng trong các lễ hội truyền thống, liên kết
với ngành du lịch tổ chức các tua du lịch làng nghề. Hà Nội có số lượng
làng nghề nhiều nhất nước, trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà
Nội nên đưa hoạt động của làng nghề vào chương trình kỷ niệm, cũng là
cách tạo cơ hội để các làng nghề vượt qua khó khăn vươn lên.