Người
ta uống rược cần quanh năm, suốt tháng. Người-người uống rượu, nhà-nhà
uống rượu; cả làng, cả cộng đồng đều thích uống rượu. Vui cũng uống,
buồn cũng uống, sống, chết đều uống. Làm rượu cần là nghề truyền thống
của riêng phụ nữ. Sau mùa tuốt lúa, thóc đã đầy kho, mọi công việc nương
rẫy xong xuôi, chính là mùa làm rượu cần. Đặc biệt là vào mùa hoa
bít-bưng bắt đầu nở, con chim kơ-tia cất tiếng hót vang... báo hiệu mùa
xuân đến là lúc đồng bào chuẩn bị cho những ngày lễ hội. Gạo được lấy
làm rượu cần thỏa chí, không cần biết sau mùa lễ hội, mưa bão, hết gạo,
lấy gì ăn.
 |
|
Ảnh minh họa |
Men rượu: Người Gia Rai, Ba Na lên
rừng tìm cây hiam, bóc lấy vỏ mang về đập dập nát rồi bỏ vào nước ngâm.
Sau đó lấy gạo, gừng, ớt giã thành bột, trộn đều rồi ngâm vào nước hiam.
Vài giờ sau vắt thành viên nhỏ, đem phơi khô và treo lên sàn bếp, 10-15
ngày là có thể làm rượu cần.
Làm rượu: Nguyên liệu chính là gạo, bo
bo, ngô, kê, sắn, nhưng kê và bo bo làm rượu cần ngon hơn cả. Người ta
nấu thành cơm rồi lót lá rải ra cho nguội, men tán nhỏ, rắc lên, trộn
đều. Đồng thời lấy trấu rửa sạch, để ráo nước trộn vào hỗn hợp nói trên.
Lấy một cái gùi hay sọt, lót lá đổ cơm ấy ủ khoảng 1 đến 2 ngày. Sau đó
lại đổ ra một lần nữa cho hả hơi rồi mới bỏ vào ghè bịt kín miệng,
khoảng 5 đến 10 ngày sau thì uống được.
Đối với đồng bào Tây Nguyên, rượu cần
trước hết là vật để dâng hiến cho các thần (Yàng), sau đó đến nhu cầu
của con người. Cũng như trâu, bò nuôi chủ yếu để làm hiến sinh, sau đó
mới đến con người. Ở Tây Nguyên tất cả các lễ hội không bao giờ thiếu
vắng rượu cần. Ngoài giá trị vật chất, rượu cần còn biểu hiện cho văn
hóa giao tiếp. Bởi uống rượu cần vào con người mới thăng hoa, âm nhạc
mới bốc đến độ cao trào, mọi khả năng nghệ thuật mới được biểu hiện đến
mức tuôn chảy tự nhiên. Song cái biểu hiện để nhận biết nhất ở rượu cần
là sợi dây gắn kết từng cá nhân với cộng đồng. Thông qua đó mọi người
hiểu biết nhau hơn, xích lại gần nhau, đoàn kết vượt qua mọi thử thách.
Mỗi khi gia đình có việc, không cần mời mọc mà chỉ cần một tín hiệu như
tiếng tù và hoặc hồi chiêng, trống thì cả làng đều có mặt, cùng góp rượu
và vật chất để chia sẻ niềm vui những khó khăn, mất mát, đau thương.
Rượu cần đã gắn bó với các dân tộc Tây
Nguyên qua bao thăng trầm của lịch sử tộc người. Rượu cần là lời chào
mời thân thiết (khi gặp bạn), là điều nhắc nhở đôi trai gái phải tuân
thủ những phong tục của cha ông (trong lễ cưới) là một quyết định mang
tính chất hành chính (trong lễ “thổi tai” công nhận đứa trẻ vào cộng
đồng), là tình cảm xót thương, li biệt của người sống với người đã chết
(trong lễ Pơ thi)... Nó là sợi dây liên kết cộng đồng, trở thành một
phương diện văn hóa có sức sống lâu bền trong đời sống các cư dân Tây
Nguyên.
TS. Đào Huy