Họ gọi đây là “gốm An Nam” và coi đó là “một hiện tượng mới” trong
lịch sử gốm phương Đông. Nhưng phải đợi 52 năm sau, những bí ẩn về nơi
sản xuất chiếc bình gốm hoa lam đẹp nổi tiếng ấy mới được khám phá . Từ
những thông tin của ông Mokoto Anabuky, Đại sứ Nhật Bản tại Hà Nội về
chiếc bình Topkapi, các cán bộ Bảo tàng Hải Hưng (nay là Hải Dương), do
ông Tăng Bá Hoành phụ trách, đã lần tìm và phát hiện ra di tích gốm Chu
Đậu tại châu Nam Sách xưa, vào đầu năm 1983. Và cũng từ đó, người ta mới
biết dòng gốm hoa lam cũng được sản xuất ở Việt Nam từ hơn 500 năm
trước.
Làng gốm Chu Đậu (nay thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải
Dương) là một trung tâm sản xuất gốm lớn nhất của nước ta, ra đời vào
thế kỷ XIV và phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XV-XVI. Chu Đậu thường
sản xuất những dòng gốm cao cấp, gốm mỹ nghệ phục vụ cho tầng lớp trên,
phục vụ tôn giáo, tín ngưỡng và xuất khẩu ra nước ngoài.
Dòng gốm Chu Đậu có sự kết hợp nhiều kỹ thuật trang trí như đắp
nổi, chạm, dán ghép, khắc chìm. Men sử dụng với nhiều màu khác nhau hết
sức phong phú: men trắng hoa lam, men nâu, xanh lục, men ngọc, men trắng
vẽ tam thái hoặc kết hợp vẽ vàng kim trên men. Sự chuyển đổi kỹ thuật
dùng bút lông để vẽ hoa văn bằng màu dưới men đã đem lại cho công nghệ
gốm Việt Nam những nét mới mẻ và dẫn tới sự ra đời của gốm hoa lam. Gốm
hoa lam hiện đã phổ biến và trở thành thuật ngữ quốc tế, dùng để chỉ
những đồ gốm có men trắng được vẽ màu xanh cobalt dưới men.
Sau khi có quyết định của Chính phủ Việt Nam, 10% hiện vật trong
tàu cổ Cù Lao Chàm đã được lựa chọn và “chia phần” tương đối đều cho các
bảo tàng: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 4.362 hiện vật cùng 779 hiện vật
độc bản, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP HCM 4.362 hiện vật, Bảo tàng
Mỹ thuật Việt Nam 4.362 hiện vật, Bảo tàng tỉnh Quảng Nam 5.562 hiện
vật, Bảo tàng tỉnh Hải Dương 5.562 hiện vật. Càng nghiên cứu, nghệ thuật
của người xưa càng hiển lộ.
Chủ đề trang trí có hình tượng con người, động vật, côn trùng, thủy
tộc, hoa lá, phong thủy… kết hợp kỹ thuật trang trí nổi bằng bút lông
với vẽ lam hay vẽ nhiều màu trên men. Mỗi loại hoa văn lại có nhiều bố
cục, nhiều cách thể hiện, đa dạng chưa từng biết đến cho thấy tài khéo
vô cùng của người thợ gốm xưa. Đó là một bút pháp điêu luyện tuyệt vời:
khi thì tỉa vẽ thật chi tiết, khi thì phóng bút nhanh và thoáng. Lối thể
hiện không gian ba chiều, luật viễn cận trong hội họa đều như được sử
dụng rất nhuần nhụy và từ đó phô diễn một cách kỳ lạ, sinh động, đa dạng
đời sống xã hội và cả thế giới của một miền nhiệt đới thế kỷ XV.
3. Theo GS Misugi Takatoshi (Nhật Bản), con đường tơ lụa trên biển
hình thành rất sớm, từ khi kỹ thuật đóng thuyền buồm bọc gió vượt biển
được xác lập từ đầu công nguyên và ngày càng phát triển khi kỹ thuật la
bàn được phát minh, tạo điều kiện cho những thương thuyền cỡ lớn chuyên
chở hàng lụa, hồ tiêu, hương liệu, trầm hương, sản phẩm sành sứ… thay
thế dần các đoàn lữ hành bằng lạc đà trên lục địa đầy trắc trở và hoang
vắng. Song song với sự hưng thịnh rực rỡ của nền văn minh Lưỡng Hà vào
thế kỷ IX-XI, hàng hóa từ Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia… đã được đưa
đến các xứ Ai Cập cổ đại để mua bán, trong đó có hàng “sành sứ An Nam”,
đặc biệt loại bát chén men ngọc được người Vịnh Ba Tư rất ưa chuộng, xem
là một dụng cụ để kiểm tra thuốc độc trong thức ăn (poisoning test)
trong thời kỳ các nước và bộ tộc tranh chấp ác liệt và truyền thuyết đó
vẫn được lưu lại cho đến ngày nay.

Bản
đồ mô tả con đường tơ lụa trên bộ và trên biển. Tại Việt Nam, các
thương thuyền có thể cập bến hoặc xuất phát ở Luy Lâu, Hà Nội, Vân Đồn,
Phố Hiến, Hội An, Cù Lao Chàm, Vijaya (Thị Nại), Óc Eo (vương quốc cổ
Phù Nam)
Tổ tiên chúng ta đã vượt biển như thế nào? Nhà hàng hải George
Windsor Earl khen ngợi không tiếc lời trong sổ nhật ký của ông trên
đường dẫn lộ một chiếc thương thuyền đến Singapore vào đầu thế kỷ thứ
XVIII như sau: “…Bão táp thật dữ dội ngoài biển khơi, thiếu chút nữa thì
thương thuyền của chúng tôi bị gẫy đổ cả cột buồm. Thời tiết đã tiếp
tục xấu như thế trong nhiều ngày. Vậy mà khi đang thận trọng dẫn tàu vào
eo biển, chúng tôi chợt nhận ra 6 chiếc thuyền nhỏ của người Việt Nam
đang giương hết mọi cánh buồm tiến thẳng tới trước… Tôi nghĩ mấy người
Việt đó đang lèo lái những con thuyền bé nhỏ mà cách thức để vượt sóng
lượn gió thật là tài tình. Tài ba của họ không thua kém bất cứ một thủy
thủ đoàn hạng nhất nào của toàn khu vực Âu châu.
Đoàn thuyền bé tí teo đó không có một chiếc nào vượt quá 50 tấn,
vậy mà những người đi biển này có thể đè bẹp cả sóng gió Biển Đông vào
giữa mùa bão tố. Họ rất can đảm khi xuất dương. Thuyền họ lại không
trang bị vũ khí và như thế có thể là miếng mồi ngon cho bọn hải tặc”.
Còn bác sĩ John Crawfurd, người được Chính phủ Anh đề cử làm “lưỡng
quốc” đại sứ tại hai kinh đô Bangkok và Huế năm 1822 nhận xét: “Nếu như
người Việt Nam được phép tự do viễn dương thì người ta không thể tìm
đâu ra được một sắc dân nào nữa ở Á Đông mà lại có đầy đủ những đức tính
để trở thành các nhà hàng hải siêu đẳng như vậy… Tính họ không những
cương quyết, năng hoạt động, tôn trọng hạn kỳ, mà lại luôn luôn vui vẻ
chiều lòng khách hàng… Ghe tàu của họ được các nhà chuyên môn xét đoán
và mô tả như là những loại thuyền tốt nhất trong khu vực Đông Nam Á,
kiến trúc rất chắc chắn, đủ sức hải hành ngay cả những khi thời tiết xấu
nhất”.
Thuyền trưởng John White, một trong những nhà hàng hải Hoa Kỳ đầu
tiên đến Việt Nam vào năm 1820 thì kinh ngạc khi thấy những hải xưởng
Việt Nam thời đó lại có đầy đủ vật liệu cho việc đóng những loại tàu lớn
nhất như Frigate (tức loại chiến hạm chủ lực của Hải quân Hoa Kỳ sử
dụng vào đầu thế kỷ XIX).
Vũ Hữu San trong bài viết: “Khoảng trống văn học dân ta: những
thành tích hàng hải” đã nhận xét thấm thía rằng, ngày nay, trong những
buổi lễ lạt, đa số các vị được lên diễn đàn để nói thì hầu hết đều ca
tụng những chiến công hiển hách của tiền nhân. Tuy vậy, qua hàng trăm,
ngàn bài diễn văn người ta chưa thấy hoạt động hàng hải của tổ tiên được
nhắc nhở tới. Trong những công trình dựng nước, mở nước, giữ nước trên
vùng đất nước quê hương mà sông biển bao trùm khắp nơi, sự hy sinh vì
nghĩa vụ với “thân xác tử sĩ chìm theo sóng nước” nhiều hơn số người “da
ngựa bọc thây” gấp nhiều lần.
4. Mầm mống ngoại thương nằm trong lịch sử giao lưu lâu dài giữa
Việt Nam và thương nhân từ nhiều nước đã đến buôn bán tại Việt Nam. Vậy
mà mãi đến thế kỷ XX, người ta mới phát hiện gốm Việt Nam trong hàng hóa
xuất khẩu tại Tây Á, lục địa và hải đảo Đông Nam Á, cũng như Nhật Bản.
Vô số gốm hoa lam Việt Nam tìm thấy ở Đông Nam Á là thành phẩm của hoạt
động mậu dịch đáng nể này.
Qua đó Việt Nam dành được cho mình một vị trí bền vững trong lịch
sử gốm hoa lam trong giai đoạn sớm. Còn ở Tây Á, sự có mặt của gốm đã
gián tiếp cho biết Việt Nam có mặt trong các thương vụ buôn bán đường
dài. “Sự có mặt của gốm hoa lam Việt Nam trong những sưu tập có uy tín
cho biết chúng đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật và khiếu thẩm mỹ của
khách hàng sành sỏi và giàu có nhất thế giới” – Kerry Nguyễn Long trong
cuốn “Gốm hoa lam trong bối cảnh xuất khẩu” đã viết như vậy.
Còn Bùi Minh Trí trong cuốn “Gốm hoa lam Việt Nam” nhận xét: Một
trong những tiêu chí đánh giá về sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật
gốm Việt Nam thời kỳ này phải kể đến các bức vẽ về động vật. Đây là
những đồ án đẹp được thể hiện rất cầu kỳ, sinh động, với bút pháp điêu
luyện có thần, mang tính hiện thực cao. Có thể nói không quá rằng, những
bức vẽ chim, cá có chất lượng cao so với đồ sứ thời Minh cùng thời, thì
dường như đã vượt qua độ tinh xảo, chứng tỏ bước phát triển rất cao về
nghệ thuật trang trí.
Sự cầu kỳ của chiếc bình gốm vẽ hoa mẫu đơn dây ở Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam, chiếc bát vẽ hoa sen dây ở Bảo tàng Hà Nội, chiếc đĩa lớn vẽ
hoa sen dây và hai con sư tử vờn quả cầu lửa ở Bảo tàng Pusat Jakarta
(Indonesia), chiếc bình dáng con tiện vẽ rồng là vật báu của gia đình
tướng quân Togugawa (Nhật Bản) trước đây hay những chiếc bình hình dáng
gần giống đàn tỳ bà vẽ hoa lá, chim phượng và rồng là những ví dụ điển
hình hơn cả.
Nhưng TS Nguyễn Văn Cường lại đưa ra một minh chứng khác mà anh cho
rằng thuyết phục hơn cả. Đó là chiếc bình vẽ Thiên Nga được làm bằng
chất liệu gốm men, cao 56,5cm, đường kính miệng 23,8cm, đường kính đáy
25,8cm, nặng 15,6kg, có dáng búp sen, miệng loe tròn, gờ miệng phẳng,
thân phình thuôn dần xuống đáy – chiếc bình gốm có kích thước lớn nhất,
có đề tài trang trí hoành tráng nhất trong số những hiện vật độc bản quý
hiếm từ đợt khai quật tàu đắm Cù Lao Chàm.
Anh nhắc tôi rằng, nó còn cao lớn hơn cả chiếc bình Topkapi nổi
tiếng hiện đang “lưu lạc” ở Thổ Nhĩ Kỳ. Những đề tài trang trí ở đây đã
thoát ra khỏi khuôn mẫu của đề tài kinh điển Trung Hoa, phóng khoáng
hơn, sáng tạo hơn, đậm chất dân gian, hồn quê đất Việt vùng Đồng bằng
châu thổ Bắc Bộ, như một sứ giả về từ quá khứ, cho ta hình dung phần nào
về vẻ đẹp của quê hương đất nước Việt Nam thời Lê Sơ thế kỷ XV, một
quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam Á lúc bấy giờ. Và nó là một minh chứng
tuyệt mỹ của con đường tơ lụa trên biển.
Biển Đông che giấu trong lòng nước nhiều bí ẩn hơn chúng ta tưởng rất nhiều.
|
Biển Đông đã từng
có một con đường tơ lụa rất tấp nập. Việt Nam không chỉ là điểm trung
chuyển mà còn là điểm đến, điểm xuất phát của nhiều chuyến tàu. Điều này
phù hợp với nhận định ban đầu của
GS Misugi
Takayoshi rằng, có những dấu hiệu cho thấy “người Chiêm Thành đi bằng
Giao Chỉ thuyền” đã vượt biển đến các vùng đảo của Nhật Bản từ thế kỷ
thứ II vì người dân tộc Chăm sống ở ven biển vốn có nghề đi biển theo
hướng gió mùa rất thông thạo. Cho nên nhiều nhà khảo cổ trẻ tuổi Nhật
Bản ngày nay vẫn thường xuyên đi tìm những mảnh vụn gốm sứ, hàng trang
sức đang nằm dưới lòng đất ở Mỹ Sơn, Trà Kiệu… để tìm lời giải đáp cho
điều “bí ẩn” trong quan hệ Nhật – Việt vào thời kỳ mà con đường tơ lụa
trên biển bắt đầu mới hình thành. |
Theo Nguyễn Huy Minh
Petrotimes